Cố hương là sợi dây neo giữ tâm hồn - Bút ký của TRẦN QUANG QUÝ

12/08/2021 17:35

Nhân kỷ niệm 46 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước (30/4/1975 - 30/4/2021), xin giới thiệu bút ký "Cố hương là sợi dây neo giữ tâm hồn" của nhà thơ Trần Quang Quý.

LTS: Nguyễn Hoài Bắc là một trong những doanh nhân Việt kiều thành đạt và có tâm với quê hương, đất nước. Ông cũng là người "thân" với Thủ tướng Ca-na-da. Trên các số báo Tết Tân Sửu vừa rồi, ông có đến 8 bài viết về các vấn đề kinh tế - xã hội, về làm gì để thu hút cộng đồng bà con Việt kiều chung tay xây dựng đất nước... Hiện Nguyễn Hoài Bắc vẫn tiếp tục đầu tư vào nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, giáo dục và đào tạo... ở cố hương; nhận được nhiều cảm tình và khích lệ của các chính khách Việt Nam. Trong dịp bùng phát các ổ dịch lần thứ ba vừa qua, ông cũng giao trường dạy nghề Việt Nam - Canada của ông ở Chí Linh làm bệnh viện dã chiến cho bệnh nhân Covid-2 và làm từ thiện cho một số nơi khó khăn khác. Vậy điều gì làm nên Nguyễn Hoài Bắc, từ cuộc đời một thuyền nhân có tính cách mạnh mẽ, phiêu lưu, mạo hiểm ra đi chỉ vì bức bối đời sống khó khăn sau 1975, trở thành "cu li" rửa bát ở nước ngoài và ý chí vươn lên, sớm về nước làm ăn, đóng góp những tâm huyết của mình với quê hương trong mấy thập niên vừa qua?

tom-tat-truyen-co-huong-1628764293.jpg

Hình ảnh quê hương luôn in đậm trong sâu thẳm mỗi con người; Ảnh Internet

Có người, dù chỉ thoáng gặp lần đầu cũng đủ làm ta nhớ, như là cái "duyên" vậy. Lại có người phải qua thời gian trải nghiệm, thậm chí lúc đầu rất khó chịu, rồi mới sáng dần cái mặt "chơi được" của họ. Tôi có dịp được gặp hai doanh nhân gốc Việt, hai cá tính khác nhau. Họ là hai trong khá nhiều gương mặt người Việt về nước làm ăn, sinh sống sau khi đất nước mở cửa, hội nhập và là hai con người để lại những dấu ấn với tôi như vậy.

Họ có thể khác nhau về nguồn gốc dòng tộc, hoàn cảnh ra đi, khác nhau tính cách, thành đạt hoặc chưa thành đạt... Một người có nguồn gốc di cư đã gần một ngàn năm, một người thực sống ở nước ngoài chỉ vài năm, để thành đồng chí... "Việt kiều" - giọng của ông. Nhưng trong họ dường như cùng có một sợi dây tình cảm, một niềm trăn trở, một cội nguồn văn hóa, một dòng máu Việt, trầm lặng trong huyết mạch hay nhiệt năng toả sáng. Và vì vậy, họ cùng tìm được một con đường của tinh thần, của sinh nghiệp, đường trở về Tổ quốc.

I.

Người thứ nhất mà tôi muốn đề cập là ông Lý Xương Căn (Lee Chang Kun). Lý là hậu duệ đời thứ 31 của Lý Thái Tổ, đời thứ 26 của Hoàng tử Lý Long Tường, sống ở Seul. Có lẽ đây là câu chuyện lạ, câu chuyện huyền thoại vào bậc nhất thế giới mà lịch sử còn nhiều mờ khuất về hoàn cảnh ra đi, đâu đó gần ngàn năm trước, của những vị hoàng tử nhà Lý như Lý Dương Côn, Lý Long Tường, cùng sang xứ Cao Ly.

Hoàng tử Lý Long Tường, không rõ vì cái chí muốn khám phá biển Đông hay vì những ẩn ức, biến cố nào đó của lịch sử, triều chính lúc bấy giờ, rời giang sơn Đại Việt từ bến Vân Đồn, lưu lạc sang tận bán đảo Cao Ly vào khoảng đầu thế kỷ 13. Cụ Lý có công lãnh đạo cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông cho triều đình Cao Ly, góp cùng tài thao lược sáng chói ba lần đánh tan quân Nguyên của binh tướng nhà Trần, ở cố quốc Đại Việt, ngăn hoạ diệt chủng dưới vó ngựa khủng khiếp của đội quân kiêu hùng Nguyên Mông xâm chiếm, cát cứ suốt một vùng lục địa rộng lớn từ Âu sang Á. Vua Cao Ly quý trọng tài năng và công lao của cụ Lý bèn ban thưởng trang ấp cho cụ ở Hoa Sơn và phong tước Hoa Sơn Tướng quân. Từ đó mà lập nên dòng họ Lý Hoa Sơn. Con cháu của cụ về sau cũng được nhà nước Chô Sơn cổ trọng dụng (Tôi đã đọc một bài báo cho rằng, gần đây các sử gia Hàn - Việt còn công bố một chi nhánh họ Lý gốc Việt khác ở Tinh Thiện, do Hoàng tử Lý Dương Côn, sang Cao Ly trước cả Lý Long Tường khoảng 100 năm, cũng làm quan to trong triều đình Cao Ly). Người ta bảo, ở Hoa Sơn có Quảng Đại sơn. Trên núi này có một phiến đá phẳng, tương truyền là nơi Hoàng tử Lý Long Tường và tôn thất thường lên đó trải lòng, vọng về cố hương những tháng năm ly tán. Nơi ấy được mang tên là Vọng quốc đàn.

Tôi gặp Lý Xương Căn năm 2000 ở Hà Nội. Ông về thăm cố quốc lần đầu vào tháng 5/1993 qua tìm hiểu và giúp đỡ của Đại sứ Nguyễn Phú Bình ở Hàn Quốc. Trong một lần đi Hàn Quốc, biết ông là chi trưởng của dòng họ Lý ở Seul, tôi nhờ một người quen ở Đại Sứ quán ta dẫn đi tìm ông và những đồng bào di cư từ tiền sử 800 năm trước, với hy vọng viết được một cái gì đó về dòng tộc Lý ở Seul. Rất tiếc, đi loanh quanh suốt ngày chủ nhật mà không gặp được ông. Có thể dịp đó ông đi làm ăn xa, hoặc thay đổi địa chỉ mà mình không biết? Thời gian ở Seul của tôi chỉ vỏn vẹn một tuần. Nản quá, tôi và người quen bèn rủ nhau đi chợ. Chợ là không gian văn hóa đặc thù của cộng đồng và lãnh thổ. Sau một ngày mệt mỏi, chỉ cần nhìn những bình rượu nhân sâm, củ to bằng bắp chuối, rễ dài cả mét và những rổ thịt chó luộc ngất ngư trong các cửa hiệu, sạp hàng tại cổng chợ Namdaemun là có thể "hồi". Thế mới ấn tượng!

Ở Seul có hai chợ nổi tiếng mà người Việt nào qua cũng phải biết. Chợ Dondaemun là lò áo da, đồ da. Chợ Namdaemun là lò nhân sâm và thịt chó. Đoàn công tác của tôi lúc đó có bà cán bộ cỡ vụ, ở Bộ Y tế ních đầy váy, áo da vào cái va li Tàu nhái thương hiệu Ý đến nỗi nó toạc cả khóa ra, trông như đào lộn hột. Bà này bèn "ăn vạ" công ty dịch vụ vận chuyển nọ một cái va li khác, kèm 100 đô la bồi thường. Lại có ông vừa mặc, vừa vắt vai vài cái áo da vì sợ va li quá cân. Mười đô một cân quá trọng lượng thì còn lời lãi gì? Ở cửa hiệu nhân sâm, mấy cô nàng mũm mĩm đứng quầy nói cười ỏn ẻn bằng tiếng Việt hẳn hoi, làm tôi rất ngạc nhiên, dù họ nói không sõi, không rành. Các cô bảo học tiếng Việt ở các lớp cấp tốc, thậm chí có cô du học ngoại ngữ một năm ở tận Vũng Tàu và Sài Gòn. Thế mới biết người Hàn nhậy lắm. Họ quyết không bỏ lỡ nguồn "bạn hàng" từ hàng ngàn cô dâu Việt, hàng ngàn người lao động Việt xuất khẩu, cũng cỡ ngàn người Việt nữa đi công tác và du lịch mỗi năm. Nhân sâm không chừng được "bơm" thuốc tăng trưởng, trông nó cứ lừng lững thế kia?

Người ta vẫn nói vui, sức mạnh dân tộc Hàn là nhân sâm cộng thịt chó!? Mà thịt chó, tôi ngờ rằng chính là món ẩm thực cổ truyền Việt do các cụ nhà Lý xuất cảng sang Cao Ly và truyền lại cho dân bản xứ cũng nên? Tuỳ bạn đọc tìm hiểu lý giải. Nhưng có một điều chắc chắn, vào khoảng hơn hai chục năm trước, khi ngoại giao Hàn - Việt cởi mở, phát triển thuận lợi, nhiều người họ Lý biết thông tin về tộc hệ và cố hương mình, rất muốn được về Việt Nam thăm viếng, tìm cơ hội làm ăn. Một trong những người nhiệt thành, có tấm lòng với cố quốc và đi tiên phong ấy chính là Lý Xương Căn.

Sau chuyến đi Hàn Quốc, qua Ban liên lạc dòng họ Lý, tôi gặp Lý Xương Căn trong lần ông về Bắc Ninh bái tổ, góp tôn tạo tổ đường và dẫn theo một nhóm các chuyên gia, doanh nghiệp chào hàng, tìm hiểu đầu tư. Lý Xương Căn có gương mặt hiền, trầm tĩnh, đường nét của người đàn ông tuổi Mậu Tuất này cũng đã Hàn hóa. Dù mới chỉ học một số câu tiếng Việt còn lơ lớ, chủ yếu phải qua phiên dịch, vẫn thấy trong ông niềm phấn khích khi nhắc về cố hương. Ông bảo, nhiều bà con họ Lý muốn về thăm quê lắm, nhưng không phải ai cũng có điều kiện. Ông hào hứng rằng, trong một thời gian ngắn ông đã đưa khá nhiều bà con từ Hàn Quốc về thăm Bắc Ninh rồi. Cố quốc nghèo, nhưng vẫn còn đó những tình cảm nồng hậu và ý nghĩa thiêng liêng nguồn cội, ông cười hiền, bảo thế.

Tôi hỏi ông, nếu cần chia sẻ về làm ăn, làm thay đổi diện mạo cho cố hương, ông có ý tưởng gì? Lý Xương Căn lại tủm tỉm. Ông không trả lời câu hỏi của tôi mà kể một câu chuyện thế hệ ông chứng thực. Đó là thập kỷ 60, ngay sau cuộc nội chiến Nam - Bắc Triều không lâu, Hàn Quốc đã phải thắt lưng buộc bụng cho cuộc huy động tổng lực về xây dựng giao thông. Có thể nói lúc đó người Hàn Quốc "nhịn đói" để làm đường, làm cao tốc. Chính giao thông, tất nhiên không chỉ giao thông, là cầu nối quan trọng bậc nhất để thu hút đầu tư nước ngoài. Từ những sân bay, bến cảng, con đường mà đầu tư nước ngoài, những khu công nghiệp, chế xuất, khu công nghệ cao, nhà hàng, khách sạn, hệ thống siêu thị, hệ thống tài chính ngân hàng, khách du lịch... được thu hút, được ra đời và lớn mạnh. Chỉ riêng sông Hàn đoạn qua Seul đã có hàng chục cây cầu. Hệ thống đường hầm qua núi, hệ thống giao thông ngầm dường như có một đời sống khác với dòng người tuôn chảy dưới lòng Seul sầm uất và tốc độ hiện đại nhanh.

Có thể vì hệ thống giao thông cố quốc lúc đó còn manh mún, xập xệ, lộn xộn đến kinh khiếp mà Lý Xương Căn kể câu chuyện kia chăng? Nhưng không thể giấu được sự ách tắc, lụt lội như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm gần đây. Nó không chỉ gây tổn hại về kinh tế, còn gây ức chế, tổn hại về tinh thần. Sự ô nhiễm môi trường, khí thải đô thị cũng vào loại nhất thế giới. Trong bối cảnh như vậy thì bài học Hàn Quốc gần gũi, thuyết phục hơn bao giờ hết. Mở cửa và hội nhập, chính sách vĩ mô thông thoáng và đúng hướng, hệ thống giáo dục tiên tiến, ưu tiên giao thông và tốc độ... là những điều kiện tiên quyết, là nhịp điệu để Hàn Quốc có những bước nhảy vọt. Thu nhập bình quân nhanh chóng lên con số những chục ngàn đô la mỗi người dân một năm. Những tập đoàn Samsung, Hyundae, LG, Kengnam... trở thành những thế lực cạnh tranh Quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá.

Vậy mà, tôi biết những thập niên 60, 70, Seul còn phải gọi Sài Gòn là "Anh Hai", là "Viên ngọc Viễn Đông" - một doanh nhân trong nhóm của Lý Xương Căn hào hứng góp chuyện. Thế có nghĩa ông tự nhận Hàn Quốc chỉ là "Anh Ba" thôi. Ông chính là một cựu binh thời Pắc Chung Hy đánh thuê Nam ở Việt Nam. Tôi từng gặp khá nhiều cựu binh như ông, họ nói về Việt Nam thường bằng giọng hối lỗi, bằng thiện cảm muốn làm được việc gì đó giúp Việt Nam, ngõ hầu xoa dịu những ký ức chiến tranh buồn trong ẩn ức dai dẳng của mình.

Tại buổi gặp ấy, nhóm doanh nhân của Lý Xương Căn cũng mang chào hàng một sản phẩm có thể làm đông cứng đất nhanh, kiểu như bê tông "mì ăn liền", có thể dùng vào việc làm kênh, mương thủy lợi, làm đường giao thông nông thôn. Tuy nhiên, tôi không rõ công nghệ "mỳ ăn liền" sau đó có chào được địa phương nào "ăn hàng" hay không?

Không biết, có phải tại các cụ tiền bối nhà Lý để lộ bí quyết món thịt chó cao đạm cho xứ Hàn hay không? Chúng tôi cùng tếu táo cười xoà. Nhưng là ở một không gian khác, tại phòng khách ngôi biệt thự nhỏ mà Lý Xương Căn đã đưa cả vợ, ba đứa con về Việt Nam, sinh sống những ngày đầu, ở Tứ Liên, Tây Hồ. Ông đang hiện thực hoá ước mơ lần ngược con đường tổ tiên đã ra đi, về lại Thăng Long thành, nơi cụ tổ Lý Công Uẩn đã định đô, dựng nên nghiệp lớn nghìn năm Thăng Long. Gia đình ông đã được Chủ tịch nước ra quyết định nhập quốc tịch Việt ngày 16-10-2009 (Quyết định 1532/QĐ-CTN). Lý Xương Căn và vợ là Kim Dung Tử (sinh năm 1961) có ba con, một gái hai trai, kháu khỉnh, bụ bẫm. Cô chị Lý Huệ Trân sinh năm 1989, Lý Hách San sinh năm 1991, Lý Việt Quốc sinh năm 1998. Các con ông đã học tiếng Việt, đi học phổ thông ở Hà Nội. Còn ông, ông đã cùng một vài người "bà con" ở Đình Bảng lập một công ty, cỡ vừa vừa, bắt đầu mở mang kinh doanh. Vợ ông, một gương mặt thật hiền, thuần Hàn, bảo học tiếng Việt khó quá, nhưng làm dâu nhà Lý, chiều chồng, thực hiện ý nguyện của chồng, sang đây định cư lâu dài thì phải gắng học thôi. Bọn trẻ cũng hào hứng với tiếng Việt lắm. Chúng dần quen các món ăn của người Hà Nội.

Có tin được không, những cháu con nước Việt, sau đến khoảng 800 năm biến cố, lưu lạc và định cư xứ người, có thể gác lại đời sống phồn thịnh của Seul để về đây nhận lại cố hương, và cố làm một việc gì đó có ý nghĩa, như Lý tâm sự? Ấy là con đường nhân nghĩa, nó lớn hơn nhiều con đường vật chất cụ thể. Cũng xin nói thêm, có thể, về tiềm lực kinh doanh, Lý Xương Căn không nổi danh bằng Lý Tường Tuấn, một doanh nhân Hàn gốc Lý khác, về nước khai trương văn phòng công ty Golden Bridge những năm trước đây (Ông Tuấn cũng đã về thăm quê tổ Bắc Ninh khi nghe mẹ kể về cội nguồn), nhưng câu chuyện về Lý Xương Căn, ước vọng giản dị của ông như một minh chứng về một cội nguồn văn hóa, một huyết hệ, một sâu thẳm quê hương, dù trong một hoàn cảnh rất đặc biệt, dù xa cách về không gian, thời gian đến nhiều thế kỷ, vẫn còn đó sợi dây tình cảm linh thiêng của mạch nguồn non nước Việt.

Bây giờ, ngoài các lĩnh vực công nghiệp, công nghệ, thương mại... mà Hàn Quốc là quốc gia đầu tư lớn nhất vào Việt Nam ở thời điểm này, thì giao thông cũng là lĩnh vực mà Hàn Quốc đang "hiện thực hóa" giấc mơ về giao thông của Lý Xương Căn ở Việt Nam, kể cả thương mại, vận tải và xây dựng cầu đường. Bây giờ, gia đình Lý Xương Căn sống ở một căn hộ xinh xinh ở Trung Hòa - Nhân Chính. Ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Việt Lý Miền Trung, có trụ sở ở Đà Nẵng. Không biết ông chuyển hướng làm ăn vào Đà Nẵng có phải vì thành phố này hấp dẫn và thông thoáng? Có phải vì thành phố này cũng có một con sông tên Hàn như ở Seul; có hệ thống giao thông, bãi biển hiện đại, sạch đẹp; có những cây cầu đẹp qua sông Hàn, trong đó cầu Rồng được giải thưởng Kim Cương về kiến trúc của Hiệp hội Cầu thế giới năm 2014? Nhưng với việc tích cực vận động người Việt, dù ở chân trời góc bể nào, cũng hướng về nguồn cội, góp phần xây dựng quê hương nước Việt thì chắc chắn rồi!

II.

Người thứ hai, một người gần như đối lập tính cách Lý Xương Căn, tôi vẫn gọi "kên kên" ông là doanh nhân Việt kiều Gia-nã-đại. Đó là những chiều bia hơi thi thoảng tại quán Gà Mạnh Hoặch, Hoàng Cầu, sau những giờ làm việc "căng như dây đàn", gần văn phòng công ty ông.

Câu chuyện về doanh nhân Gia-nã-đại Nguyễn Hoài Bắc không mang khí tượng huyền thoại, sử thi như đồng bào họ Lý. So sánh ấy là quá đỗi khập khiễng. Nhưng nó cũng đủ lạ về một con người gai góc ở tính cách, "trầm luân" về thế sự và cuộc đời mà ngoài cái vẻ hào hoa, lịch lãm, dáng dấp doanh nhân quốc ngoại của ông, không phải là những người bạn, người gần gũi ông thì thực khó biết những mảng trầm tích của con người ông.

Ông lịch lãm mà cũng gấu, cũng bặm trợn - là tự nhận thế. Nếu ai biết rõ về nguồn gốc xuất thân, về cái quá khứ không được coi là "ngon lành" của ông thì khó tưởng tượng vì sao ông trở lại xứ sở mình. Quả thế, ông vẫn bảo ông như vó ngựa hoang mỏi mệt xứ người, để cuối cùng nhận ra quê hương vẫn là nơi đau đáu, níu giữ tinh thần ông, và cũng là nơi bình an nhất, dù có thể còn đó những điều ức chế.

Ông thành đạt như hôm nay, không phải ở "trên trời rơi xuống" mà là sự thành của cả quá khứ, nghe có khí tiết hảo hớn, anh hùng thảo khấu lắm. Ông kể chuyện mưu sinh, nhiều phen hồi hộp tưởng toi mạng với chính "quân ta". Ông có quan hệ tốt với những đại chức sắc, có thể thuộc hàng "vua biết mặt chúa biết tên"; nhưng cũng bạn bè, giao du với nhiều người trong giới trí thức, văn nghệ, báo chí, cả những thú thích nghe nghệ sĩ ghi-ta Văn Dị kể chuyện tiếu lâm, nghe thơ chơi chơi kiểu thơ Bút Tre hiện đại, đặc biệt là thơ có vần "ồn" như thơ Bùi Hoàng Tám mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp hay trích dẫn chẳng hạn. Ông bảo, có quá nhiều công việc trong quản trị doanh nghiệp, đến nỗi không còn thời gian cho môn thể thao nào. Những lúc bia hơi, ngồi phiếm với bạn bè là cơ hội hiếm hoi để giải trí. Ấy cũng là cái nỗi khổ ở đời của một người tham công tiếc việc, một người luôn biết cách làm cho tiền nọ đẻ tiền kia!

Tưởng "kên kên" thế mà ông phán những vấn đề về tiền tệ, lạm phát, giải pháp kích cầu này nọ nghe trúng phóc. Cũng tài, ông chẳng phải là chuyên gia tài chính, giáo sư, tiến sĩ gì. Tiến sĩ của ta phần nhiều là "sào" lẫn nhau. Thậm chí bỏ tiền thuê người khác viết hộ. Mà thực chất, ông là nông dân khi ở bản xứ, hay là công dân Canada sau vượt biên. Nhưng cũng chỉ sống ở bản quốc Gia-nã-đại 4 năm, sau đó chủ yếu là về Việt Nam, đi lại làm ăn, đâu có nghiền ngẫm học vấn kinh viện gì. Và ông lại dạo luôn sang cả nghề viết báo, như một cuộc phiêu du bến lạ. Đôi khi ông làm mấy cô nàng phóng viên mới vào nghề báo chí, hoặc tay nghề non, đến công ty ông phải chưng hửng, vì ông lại "chỉ giáo" bố cục thế nào, vấn đề thế nào cho các cô hành nghiệp. Đôi khi ông trực tiếp viết bài đăng đàn, khoát luận về làm ăn, về giáo dục - đào tạo công nhân kỹ thuật cao cho hội nhập, chính sách thu hút Việt kiều... trên một số báo to. Thấy cũng sành cả. Tôi đã từng mắng ông đừng có vét nốt cơm chim của làng báo sĩ. Ông cười khà khà, nghe tởn, rằng để rèn khả năng phân tích, đánh giá trước cộng đồng thôi. Làm kinh doanh cũng cần có chữ, có văn hóa kinh doanh vậy. Không còn là thời đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành nữa.

Sau tất thảy giọng bông đùa, châm chích, lọc lõi của một người quá nhiều đoạn trường, lại vẫn là một bộc bạch chí Việt, những trăn trở về đời sống Việt, dưới cái nhìn và phương thức quản lý đã được Tây chiếu. Tây ở đây mà tôi muốn nói là tư duy, và học cách tư duy, quản trị một cách chuyên nghiệp, mở mang tầm nhìn Quốc tế để nó không cọc cạch, vá víu, tiện thể, nhếch nhác... thường thấy ở nhiều nơi, từ cơ quan hành chính đến doanh nghiệp, chứ không phải so đọ văn hóa. Văn hóa thì mỗi quốc gia có bản sắc riêng, không phải cứ lấy Tây úp vào ta mà thành hiện đại. Văn hóa có dòng chảy của nó, và cũng chính văn hóa là hồn cốt, động lực cho mọi sự phát triển bền vững. Người ta vẫn nói "Sức mạnh mềm văn hóa" là vậy. Nó ở trong đời sống từ cổ xưa nhưng được khái quát thành "Quyền lực mềm" và phát triển lên do Joseph Samuel Nye, Giáo sư đại học Harvard từ năm 1990 ("Bound to Lead: The Changing Nature of American Power" và giải thích rõ hơn, năm 2004 "Soft Power: The Means to Success in World Politics"). Quyền lực mềm được giải thích là đạt được những gì mình muốn bằng cách tác động tới hệ thống giá trị của người khác, làm thay đổi cách suy nghĩ của người khác, khiến người khác mong muốn chính điều mà mình mong muốn. Nó thực hiện thông qua sự hấp dẫn và thuyết phục (không phải đe dọa, hay dụ dỗ, mua chuộc) các đối tượng mà Quyền lực mềm (hay Sức mạnh mềm) nhắm đến. Ở ta, trong truyền thống và chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, "Sức mạnh mềm" văn hóa làm nên sức mạnh dân tộc và những giá trị nhân văn còn lưu giữ, chẳng phải từ cái tâm lấy: "Khoan thư sức dân làm kế sâu gốc bền rễ" (Trần Hưng Đạo), "Việc nhân nghĩa cốt để yên dân", "Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo" (Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi), "Nước lấy dân làm gốc"... đó sao!?

Thử nhìn cái ý tưởng của ông Trương Nghệ Mưu, thông qua việc tổng đạo diễn Lễ khai mạc Olimpic Bắc Kinh 2008 kia chẳng hạn. Lịch sử 5000 năm Trung Hoa dựng nước được tạo dựng trên trục trung tâm là văn hóa. Ở đó không thấy những đạo quân thống lĩnh giang sơn của hoàng đế Tần Thủy Hoàng, không thấy những binh hùng tướng mạnh của Tam quốc chiến, hoặc đại bác tàu bay trong nhiều cuộc cách mạng sau này. Nhưng lại thấy một sừng sững văn hóa, tinh thần người Trung Quốc. Đấy mới là giá trị nhân văn to lớn, là ý chí và sức mạnh, để Trung Quốc nhân bản những thế hệ "Ngu Công dời núi" mới mà thế giới sẽ còn phải ngả mũ kính nể một trong những cái nôi văn hóa của nhân loại này. Phong trào Hàn lưu trong văn hóa, trong điện ảnh, ca nhạc, thời trang..., tức công nghệ giải trí đang "xâm thực" ở Việt Nam như thế nào chắc không cần biện giải.

Vậy thực chất ông là ai? Ông vẫn là Nguyễn Hoài Bắc, tuổi Đinh Dậu, quê gốc Tứ Kỳ, Hải Dương với đầy mâu thuẫn, cả bụi bặm như vừa kể dẫn. Người con trai đất Tứ Kỳ ấy, ngay sau giải phóng miền Nam năm 1975, đã nhảy vào "xem miền Nam" nó thế nào? Có gì hay, đặng sinh nghiệp, thoát ly cảnh nông quê giáp hạt, đói kém triền miên ở cái làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ của ông những năm bao cấp, cơ hàn?

Vốn bản tính ưa phiêu lưu, mạo hiểm và cái ngông của tuổi đôi mươi đang sung như ngựa chiến, Nguyễn Hoài Bắc rời Hải Dương vào Sài Gòn lăn lộn khởi nghiệp buôn gỗ, mở xưởng mộc. Ngay thời đó Bắc đã có khí tiết làm ông chủ, có dây buôn gỗ riêng là rủng rỉnh hầu bao lắm. Nhưng Bắc không ngưng chí làm giàu. Cùng với những đêm mò mẫm núi rừng, thung sâu đèo cao, theo xe gỗ là những cuộc buôn bò từ Đồng Nai, Bình Phước về Sài Gòn. Bắc mở thêm nghề ba toa, với thủ thuật cắt tiết êm de, phòng mấy ông dân quân, quản lý thị trường, bằng cách châm điện vào tai bò. Bò lợn gì cũng đơ ra, không cần đe búa, gọn lắm. Ấy là mẹo thương trường của dân ba toa thời ngăn sông, cấm chợ. Buôn bán đàng hoàng còn bị cấm đoán, khám xét ngặt nghèo trên các tuyến đường, huống chi là buôn bò, là thứ hàng lậu, phải có "máu", có "băng".

Lọt được vài chú bò qua trạm kiểm soát là có vàng cây. Vì vậy nó cũng đầy nguy hiểm. Có đêm, Bắc bị nhân viên trạm kiểm soát rượt đuổi, bị nổ súng cảnh cáo, nghe veo véo bên tai. Cuối cùng, một lần bị chặn ở hai đầu cầu, cùng đường, ông liều mạng nhảy xuống dòng nước hun hút, mịt mờ. Bạn buôn tưởng ông nghỉm luôn cùng những tải thịt. Ngờ đâu, gần sáng ông lò dò về đến nhà, quần áo lướt thướt, run cầm cập, mặt tái ngoét như sắp đổ ụp xuống.

Bắc là thế. Kể về ông thì nhiều tình tiết li kì chả kém gì xi-nê hành động Huê Kỳ, chẳng biết bao giờ mới hoãn được. Như việc ông bỏ đánh rụp  cái xưởng mộc đang thời gặt hái, xách bao tiền ra Chợ Lớn mua bịch vàng để tìm cách nhảy xe về miền Tây vượt biên. Như việc hút chết, hàng bao con người nhũn ra, mềm oặt như dải khoai héo trên con tàu gặp bão tơi tả, bị cướp quây, lương thực cạn kiện và trôi dạt vào Mã Lai. Như việc những ngày đầu lang thang rửa bát ở nhà hàng, làm nấm cho công ty nọ ở Canada để từng đêm có tiền đi học tiếng Tây, học thương mại. Như việc cuộc đời đa đoan, thăng trầm bắt ông qua tới "bốn lần đò", mà lần nào cũng phải sống cho có "trách nhiệm". Như việc chuyến đầu tiên về nước, năm 1992, liên kết làm du học Canada, khi bắt đầu khởi sắc thì bị đối tác đá hậu, cướp công toi...

Cái gì làm Nguyễn Hoài bắc, gốc gác nông dân Bắc bộ, sớm có xưởng, có người làm thuê, có tiền tích bị mà bỗng đùng đùng xuất ngoại để làm "cu li bát"? Bắc cười: "Thế mới ngớ". Nhưng ông thành thật, thực ra phần lớn người ra đi sau cuộc chiến chỉ vì bát cơm manh áo. Nếu không vì cơm áo thì bức bối về không khí, về cách nghĩ, cách làm ấu trĩ, kìm hãm, tụt hậu của những năm đầu sau chiến tranh. Rất nhiều trí thức, nhiều tài năng mong được tôn trọng, trọng dụng để hoà nhập cùng đất nước cũng vì không kiên nhẫn được mà ra đi. Ngay cả những trí thức được đào tạo ở Đông Âu, cũng vì cơm áo và điều kiện để phát huy tài trí mà ngậm ngùi làm "quân khu" chợ búa ở xứ người, phí bao năm đèn sách. Cả những ngộ nhận và ảo tưởng về một thế giới nhung lụa ở đâu đó phía trời Tây mà không ít người sớm về cõi vĩnh hằng nơi sông gầm biển hú!

Bắc bảo, ở đâu cũng vậy thôi, không ai giúp mình bằng chính mình. Phải tư duy, phải sinh kế bằng sức lao động của mình. Phải tìm con đường cho chính mình. Giá hồi đó không có ba cái chuyện ngăn sông, cấm chợ, bức bối giao thông, công thương thì chắc gì ông đã liều nhảy tàu xuất ngoại để suýt thành bọt biển. Vì vậy, chỉ sau bốn năm, khi có đồng vốn, có khai trí thương trường, Nguyễn Hoài Bắc đã trở lại đầu tư, mở hướng kinh doanh trên quê cha đất tổ Hải Dương, như một nghĩa cử tri ân sau những gì "bồng bột trí trai" (cười khà khà), tha hương thành "Việt kiều yêu nước" - vẫn cái giọng tự giễu.

Giờ thì tôi hiểu vì sao Bắc hay tếu, hay giễu vì thời gian, công việc đang biến ông thành cỗ máy, nếu không có tiếng cười. Bạn có tin không, khi ông vừa làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, làm Giám đốc, hoặc thành viên sáng lập, liên doanh chính đến sáu, bảy công ty, trường học từ Bắc tới Nam?

Báo chí đã viết nhiều về sự thành công sản phẩm chăn, ga, gối, đệm thương hiệu Canada Home Deco (CND) của vợ chồng ông. CND đã nhanh chóng tung hoành thị trường, "đả bại" hàng Tàu ngay ở cửa khẩu; và buộc hàng Hàn Quốc cùng loại phải nhìn lại, kiêng nể ra sao. Đó là một doanh nghiệp gia đình, ngay ở thành phố Hải Dương, với 10 dây truyền hiện đại, nuôi hàng trăm công nhân lao động và lãi ròng vài chục tỷ một năm. Ông còn là Phó Tổng giám đốc tài chính công ty Đầu tư Xây dựng - Thương mại Sài Gòn, góp vốn trồng 6.500 héc-ta cao su, có 3.500 công nhân làm việc ở Hòa Lâm, Xuyên Mộc. Quả là một mỏ vàng trắng của một người nhạy cảm "ngửi" được tiền. Ông lại có liên doanh khách sạn - du lịch lớn ở Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu. Gần đây nhất, ông nhảy sang đầu tư giáo dục, mua lại trường phổ thông trung học Marie Quirie Hà Nội, trị giá 35 tỷ, trong đó ông góp vốn 70%.

Nhưng khát vọng lớn nhất của Bắc là đầu tư hàng ngàn tỷ đồng vào khu công nghiệp Đại Sơn, Chí Linh mà ông làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, với ý tưởng một "Thung lũng silicol" Việt Nam. Tất nhiên, để hiện thực ý tưởng khá "liều" ấy, Đại Sơn còn phải tăng gấp đôi số đất gần 40 héc-ta hiện nay và cần nhiều nhân tố khác. Ngay cả việc giải quyết lối đi của khu cũng có quá nhiều ngáng trở, họp lên họp xuống nhiều lần, mãi sau này mới qua. Cái sự cọc cạch, hẹp hòi ở nhiều cơ quan công quyền là thế. Luôn luôn thiếu một cái tầm, gọi đúng tên là tính chuyên nghiệp, là sự minh bạch.

Hiện tại, trong khu công nghiệp Đại sơn, công ty liên doanh sản xuất điện thoại không dây, công nghệ cao IQlinks, một liên doanh giữa bốn tập đoàn có thương hiệu lớn là Tập đoàn điện lực Việt Nam, Ubiquam Hàn Quốc, Chí Linh IQlinks, và Tập đoàn viễn thông Qualcomm của Mỹ đã hoạt động. Doanh số từ năm 2007 của IQlinks đạt gần 300 tỷ. Một Trung tâm đào tạo nghề Việt-Mỹ sắp đi vào hoạt động. Một khu 120 biệt thự sang trọng, văn phòng, trung tâm thương mại đang làm hạ tầng... Rất nhiều ý tưởng, tham vọng đã và đang được triển khai như vậy. Cũng có nghĩa hàng ngàn lao động có việc làm, hàng ngàn đời sống có cơ hội được cải thiện, thoát nghèo. Đó chính là cái ý nghĩa mà Bắc nung nấu, trầm lặng sau tất thảy những ồn ào thế cuộc.

Tôi về Đại sơn một ngày cuối hạ. Những đám mây dường như cũng nhuốm sắc màu huyền sử, giăng giăng trùng điệp dọc vùng sông nước phía Lục đầu giang. Đại Sơn nằm kế Côn Sơn - Kiếp Bạc, cái địa danh quá nổi tiếng, gắn với những danh tướng, danh nhân văn hóa lớn Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi.  Không hiểu Bắc đặt đại bản doanh khu công nghiệp, công nghệ ở đây có ngầm ý, chỉ dẫn của phong thủy gì chăng? Điều này thì Bắc không bật mí. Nhưng trong câu chuyện mà ông hé lộ, vẫn thường nhắc hai từ "linh khí’ của vùng núi non, thung lũng địa linh nhân kiệt này. Bắc bảo, thời nhà Trần, trong thế nước nguy nan, binh tướng nhà Trần đả bại quân Nguyên Mông tới ba lần, làm giặc hồn siêu phách lạc là do những hội nghị Diên Hồng, kết nối lòng dân. Câu chuyện của cha ông giờ vẫn nóng hổi. Kết nối lòng dân! Vâng, tập hợp được tâm trí dân và thực cầu thị, trọng dụng hiền tài thì dân Việt, kể cả trong hay ngoài nước cũng hội tụ quê hương, tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc.

Tôi bỗng nhớ hình ảnh cuộc gặp gỡ của Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết với bà con người Việt ở Ca Li trong chuyến thăm Mỹ năm nào. Với tình cảm chân thành, xúc động, ông nói, đại ý, đất nước luôn dang rộng cánh tay chào đón những người con của mình trở về chung tay xây dựng, mong bà con thể tất gạt bỏ những mặc cảm, nghi ngại; vì mỗi chúng ta chỉ có một người mẹ hiền Đất Nước mà thôi. Tôi cũng nhớ việc Chủ tịch chạy từ bục diễn đàn xuống bắt tay tướng Nguyễn Cao Kỳ, Nguyên Thủ tướng chính quyền Sài Gòn cũ trong ngàn con mắt cùng chia sẻ, cởi lòng. Tôi cũng nhớ hình ảnh chai rượu mà tướng Kỳ tặng một tướng công an ta trong một bài thơ của thi sĩ Bằng Việt. Dấu hiệu của những trái tim đang nhích lại gần nhau cho một con đường lớn, đường Dân tộc.

Lý Xương Căn hay Nguyễn Hoài Bắc, hay nhiều bà con nữa cũng rưng rưng con mắt trong muôn vàn sự chia sẻ, đầy vơi ấy. Bởi dù ở Seul trẻ trung hiện đại hay Canada phồn thịnh, tươi xanh thì trong máu các ông vẫn còn đó cây đa, bến nước, sân đình... Vẫn còn đó dòng máu Việt neo giữ. Đơn giản là, người ta có thể thay tên đổi họ, thay quốc tịch, thay tiếng nói, thậm chí thay cả màu da (như Michael Jackson), nhưng làm sao thay được dòng máu Việt vẫn nhiệt thành hay trầm lặng của ngàn năm, chảy thao thiết trong từng tế bào, mạch  đập kia.

Nhà thơ Trần Quang Quý